Nghĩa vụ của người mua

DANH MỤC CÂU HỎI

Câu 1. Sau khi người mua đã kiểm tra hàng hóa, nếu phát hiện ra hàng hóa không phù hợp thì thời hạn người mua phải thông báo cho người bán biết là bao lâu để không mất quyền khiếu nai?

Câu 2. Người mua cần thông báo những gì khi phát hiện hàng hóa không phù hợp cho bên bán?

Câu 3. Thông báo của người mua về việc hàng hóa không phù hợp đối với người bán sẽ được lập dưới hình thức nào?

Câu 4. Trong trường hợp mà người bán đã biết hoặc lẽ ra phải biết về các khiếm khuyết của hàng hóa nhưng không thông báo cho người mua và cố ý che giấu, thì người mua có cần thông báo kịp thời để đảm bảo quyền lợi không?

Câu 5. Hợp đồng không có qui định về giá cả thì có hiệu lực hay không?

Câu 6. Người mua được tuyên bố hủy hợp đồng trong trường hợp nào?

Câu 7. Trường hợp trong hợp đồng không xác định rõ thời điểm thanh toán thì người mua phải thanh toán vào thời điểm nào?

Câu 8. Bên Bán có được hủy hợp đồng do Bên Mua không trả tiền hàng hay không?

Câu 9. Có phải trong mọi trường hợp Bên Mua đều phải nhận hàng hay không? Nếu không, trường hợp nào Bên Mua được phép không nhận hàng?

Câu 10. Kiểm tra hàng hóa là quyền hay là nghĩa vụ của Bên mua theo CISG?

Câu 11. Lưu ý cho nhà nhập khẩu khi áp dụng CISG

DANH MỤC CÂU HỎI – TRẢ LỜI

Câu 1. Sau khi người mua đã kiểm tra hàng hóa, nếu phát hiện ra hàng hóa không phù hợp thì thời hạn người mua phải thông báo cho người bán biết là bao lâu để không mất quyền khiếu nai?

Tại Điều 39 của CISG đã qui định người mua phải thông báo cho người bán những tin tức về việc không phù hợp đó trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã phát hiện ra sự không phù hợp đó. Thời gian hạn này không được quá 2 năm kể từ ngày hàng hóa đã thực sự được giao cho người mua trừ phi thời hạn này trái ngược với thời hạn bảo hành quy định trong hợp đồng. Tuy nhiên, xác định thời hạn hợp lý được xác định dựa trên cách xác định của các tòa án. Thời hạn này có thể là 1 ngày, 1 tuần hoặc 1 tháng, tùy thuộc vào tình tiết vụ việc, tính chất hàng hóa, các yêu cầu về phương tiện, nhân lực, phương thức sử dụng… Ví dụ, các tòa án ở Áo thông thường sẽ cho phép một thời hạn khoảng 2 tuần kể từ khi phát hiện ra khiếm khuyết của hàng hóa[1] còn Tòa án tối cao sẽ cho phép 14 ngày để thực hiện cả thông báo và kiểm tra hàng hóa[2]. Ngoài ra, cũng có một số trường hợp ngoại lệ trong đó tòa án cho phép thời hạn thông báo dài hơn, có thể lên đến 2 tháng[3]. Vì vậy, để có thể thực hiện quyền khiếu nại của mình thì người mua tốt nhất là phải thông báo cho người bán ngay lập tức khi phát hiện ra hàng hóa không phù hợp.

 Câu 2Người mua cần thông báo những gì khi phát hiện hàng hóa không phù hợp cho bên bán?

Công uớc Viên 1980 không qui định về nội dung chi tiết của thông báo khiếu nài của người mua đối với người bán về việc hàng hóa không phù hợp. Tuy nhiên, các tòa án thường yêu cầu người mua phải cung cấp thông báo đủ chi tiết để người bán có cơ sở kiểm tra riêng hàng hóa và thực hiện những hành động cần thiết nhằm khắc phục các khiếm khuyết và sự không phù hợp của hàng hóa. Nếu như các khiếm khuyết của hàng hóa có thể mô tả chính xác thì người mua phải mô tả các khiếm khuyết đó và cung cấp thông tin cho người bán một cách kịp thời. Đồng thời, thông báo cũng cần đưa ra yêu cầu khắc phục các hậu quả do hàng hóa gây nên cho người bán[4]. Đối với trường hợp hàng bị thiếu, cần phải chỉ rõ bộ phận, số lượng thiếu… của hàng hóa[5]. Những thông báo chỉ mang tính chung chung như: “chất lượng xấu”, “có khiếm khuyết”, “bề ngoài kém”, “đáng ngờ”, “có vấn đề”… sẽ không có hiệu lực trước tòa.

Câu 3. Thông báo của người mua về việc hàng hóa không phù hợp đối với người bán sẽ được lập dưới hình thức nào?

Điều 39 của CISG không hề đề cập đến quy định vè hình thức thông báo. Tuy nhiên, các tòa án khi giải thích vấn đề này hầu hết đều cho phép người mua thông báo bằng bất cứ hình thức nào cả kể bằng miệng, điện thoại hay bằng văn bản, miễn sao trong thời hạn hợp lý và đủ các yêu cầu về chi tiết của thông báo[6]. Tuy nhiên, đối với các trường hợp thông báo bằng điện thoại hay tương đương vậy, tòa án sẽ yêu cầu người mua đưa ra các dẫn chứng cũng như nội dung của thông báo, và có rất nhiều trường hợp người mua đã không đảm bảo được việc chứng minh này và bị mất quyền khiếu nại hàng hóa không phù hợp. Do đó, dù thông báo dưới bất kỳ hình thức nào thì người mua phải chú ý lưu lại các dẫn chứng về thông báo của mình.

Câu 4. Trong trường hợp mà người bán đã biết hoặc lẽ ra phải biết về các khiếm khuyết của hàng hóa nhưng không thông báo cho người mua và cố ý che giấu, thì người mua có cần thông báo kịp thời để đảm bảo quyền lợi không?

Điều 40 CISG qui định đối với các khuyết tật mà người bán đã biết và cố tình che giấu người mua, thì tòa cho phép người mua không cần thông báo kịp thời. Ví dụ như tòa LG Trier trong vụ kiện giữa người mua mặt hàng rượu ở Đức với người bán ở Ý, tòa cho rằng người bán đã cố tình pha rượu với nước nên cho phép người mua không cần gửi thông báo cho dù người mua đã không kiểm tra hàng lúc được giao. Tuy nhiên, các tòa án cũng đều thống nhất với nhau rằng trong mọi trường hợp, người mua là người có nghĩa vụ chứng minh các bằng chứng liên quan đến hành vi sai trái, hiểu biết sai hoặc sự chậm trễ thông báo của người bán.

Câu 5. Hợp đồng không có qui định về giá cả thì có hiệu lực hay không?

Điều 14 của CISG qui định: “Một đề nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng về giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc quy định thể thức xác định những yếu tố này”. Như vậy, để một hợp đồng có hiệu lực thì phải qui định về điều khoản giá cả hoặc được qui định một cách ngụ ý. Tầm quan trọng của việc xác định giá cả còn được thể hiện ở Khoản 3 Điều 19 CISG khi đề cập  về các yếu tố bổ sung hay sửa đổi liên quan đến các điều kiện giá cả, thanh toán, đến phẩm chất và số lượng hàng hóa, địa điểm và thời hạn giao hàng, đến phạm vi trách nhiệm của các bên hay đến sự giải quyết tranh chấp được coi là những điều kiện làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng.  Quan điểm trái ngược về việc xác định điều khoản giá cả được thể hiện ở Điều 55của CISG, khi điều này đưa ra cách thức giúp các bên có thể xác định về giá cả trong trường hợp các bên không qui định đó là: trong những trường hợp, nếu hợp đồng đã được ký kết một cách hợp pháp, nhưng trong hợp đồng không quy định giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc không quy định cách xác định giá thì được phép suy đoán rằng, các bên, trừ phi có quy định trái ngược, đã có ngụ ý dựa vào giá đã được ấn định cho loại hàng hóa như vậy khi hàng hóa này được đem bán trong những điều kiện tương tự của ngành buôn bán hữu quan. Trong thực tiễn nghiên cứu cho thấy, tòa án vẫn sẽ công nhận hợp đồng có hiệu lực và dựa vào Điều 55 để xác định về giá, nhưng việc không xác định giá như vậy sẽ gây rủi ro cho cả 2 bên vì ngay cả khi áp dụng Điều 55 thì cũng khó gặp khó khăn do thị trường luôn biến động và cũng như việc xác định thị trường cơ sở để tính giá.

Câu 6. Người mua được tuyên bố hủy hợp đồng trong trường hợp nào?

Theo Khoản 1 Điều 72 CISG, nếu người mua có chứng cứ rõ ràng, hiển nhiên về việc người bán sẽ gây ra một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng hoặc tại Khoản 1 Điều 49 CISG qui định việc người bán không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng hay từ Công ước  cấu thành một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng thì người mua có quyền hủy hợp đồng. Bên cạnh đó người mua còn có thể hủy hợp đồng nếu người bán không giao hàng trong thời gian bổ sung hợp lý đã được người mua gia hạn thêm cho họ hoặc nếu người bán tuyên bố sẽ không giao hàng trong thời gian được gia hạn này.

Câu 7. Trường hợp trong hợp đồng không xác định rõ thời điểm thanh toán thì người mua phải thanh toán vào thời điểm nào?

Theo Khoản 1 Điều 58 CISG, khi người mua không có nghĩa vụ thanh toán vào một thời điểm cụ thể được nêu trong hợp đồng thì thời điểm thanh toán là khi hàng hóa hoặc chứng từ nhận hàng đã được đặt dưới quyền định đoạt của người mua. Ví dụ với điều kiện mua hàng tại xưởng, hàng hóa sẽ nhanh chóng được đặt dưới sự định đoạt của người mua, người mua có thể thanh toán tại lúc nhận hàng đó nếu hợp đồng không nêu rõ thời điểm thanh toán. Trong mua bán quốc tế sử dụng, đặc biệt là sử dụng hình thức vận tải đa phương tiện, vận đơn là chứng từ quan trọng để người mua có thể nhận được hàng. Khi giao hàng cho người chuyên chở, người bán sẽ nhanh chóng gửi 01 bộ vận đơn đầy đủ cho người mua. Thông thường người bán cũng sẽ nhanh chóng cầm vận đơn đến ngân hàng để yêu cầu được thanh toán. Tuy nhiên trong trường hợp hợp đồng không nêu rõ thời điểm thanh toán là ngay khi hàng được giao thì người mua có quyền thanh toán sau khi đã nhận được bộ vận đơn, đảm bảo việc sẽ nhận được hàng

Câu 8. Bên Bán có được hủy hợp đồng do Bên Mua không trả tiền hàng hay không?

Thanh toán tiền hàng là nghĩa vụ của bên mua (Điều 53 CISG), nhưng nếu bên mua không thực hiện hành vi thanh toán theo quy định của hợp đồng thì người bán cũng chưa được ngay lập tức tuyên bố hủy hợp đồng, mà phải tuân thủ điểm b khoản 1 Điều 64 CISG 1980, theo đó nếu người mua không thi hành nghĩa vụ trả tiền hoặc không nhận hàng trong thời hạn bổ sung mà người bán chấp nhận cho họ hay nếu họ tuyên bố sẽ không làm việc đó trong thời hạn ấy thì người bán được quyền hủy hợp đồng.

Câu 9. Có phải trong mọi trường hợp Bên Mua đều phải nhận hàng hay không? Nếu không, trường hợp nào Bên Mua được phép không nhận hàng?

Theo Điều 53 CISG, nhận hàng theo quy định của hợp đồng là nghĩa vụ của Bên Mua, Điều 60 CISG cũng nhấn mạnh lại nghĩa vụ này. Tuy nhiên, người mua có quyền từ chối nhận hàng trong một số trường hợp sau: Bên Bán giao hàng trước thời hạn hoặc nhiều hơn số lượng quy định (Điều 52 CISG); Trường hợp Bên Bán đã vi phạm cơ bản nghĩa vụ theo Điều 25 hoặc sau khi người mua đã gia hạn thời gian bổ sung hợp lý cho người bán theo Điều 47 CISG thì  Bên Mua được hủy hợp đồng, và vì vậy được không nhận hàng.

Câu 10. Kiểm tra hàng hóa là quyền hay là nghĩa vụ của Bên mua theo CISG?

Khoản 1 Điều 38 CISG quy định: “Người mua phải kiểm tra hàng hóa hoặc đảm bảo đã có sự kiểm tra hàng hóa trong một thời hạn ngắn nhất mà thực tế có thể làm được tình huống cụ thể”. Như vậy, theo Công ước Viên 1980, đây là nghĩa vụ của bên mua vì vậy người mua phải tiến hành kiểm tra hàng hóa, việc kiểm tra này còn đòi hỏi phải tiến hành trong thời gian ngắn nhất và hợp lý nhất dựa trên từng tình huống cụ thể.

Chú giải

[1] Tòa án thương mại Viên, Tòa Oberlandesgericht Linz…

[2]Trong án lệ ngày 27 tháng 8 năm 1999, tòa có khẳng định rằng trong trường hợp thông thường người mua phải thông báo cho người bán theo điều 39 khoản 1 trong vòng 14 ngày kể từ khi giao hàng.

[3]Ví dụ như trong án lệ trước đó ngày 27 tháng 5 năm 1997 đối với hàng hóa là bộ thăng bằng khoan sâu (Deep drill stabilizers) thì tòa tối cao Áo lại cho phép đến 1 tháng, ngoài ra còn có tòa Oberlandesgericht Innsbruck cho phép đến 2 tháng thông báo từ khi phát hiện cho dù đó là lô hàng hoa, có thể xem là dễ hư hỏng.

[4]Xem phán quyết của Tòa LG München ngày 8 tháng 2 năm 1995.

[5] Xem phán quyết của Tòa Oberlandesgericht Koblenz ngày 31 tháng 1 năm 1997, Tòa án tối cao Đức ngày 4 tháng 12 năm 1996.

[6] Ví dụ như các Tòa án OLG Flensburg (19/1/2001), OLG Schleswig (22/8/2002), Landgericht Stendal (12/10/2000)… đều cho phép thông báo bằng miệng thông qua điện thoại.

Câu 11. LƯU Ý CHO NHÀ NHẬP KHẨU KHI ÁP DỤNG CISG: KIỂM TRA PHẨM CHẤT “TRONG MỘT THỜI HẠN NGẮN NHẤT” SAU KHI NHẬN HÀNG

Theo điều 38 khoản 1 CISG, người mua phải tiến hành kiểm tra hàng hóa hoặc đảm bảo đã có sự kiểm tra hàng hóa trong một thời hạn ngắn nhất mà hoàncảnhthực tế cho phép tùy vào từng tình huống cụ thể (quy định tương tự tại Điều 44khoản 2 Luật Thương mại năm 2005).

Nhưthếnàolà “thờihạnngắnnhấtmàhoàncảnhthựctếchophép”?Thực tiễn án lệ CISG đã cho thấyquyđịnhnàyđược nhiều cơ quan giải quyết tranh chấp áp dụng một cách chặt chẽ. Tiêu chí “thời hạn ngắn nhất” được xác định tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể, gồm các tiêu chí:

– Các yếu tố liên quan đến hàng hóa: loại hàng hóa, tính chất của hàng hóa (hàng dễ hỏng, hàng mang tính chất thời vụ…), khối lượng hàng được giao,mức độ phức tạp của việc kiểm tra hàng hóa, khối lượng công việc cần thực hiện để kiểm tra hàng hóa, các dấu hiệu rõ ràng về sự không phù hợp…

– Các yếu tố liên quan đến người mua: tính chuyên nghiệp/kinh nghiệm của người mua; sự sẵn có của cơ sở vật chất cho kiểm tra; thời hạn, hình thức sử dụng hay hình thức bán lại mà người mua mong muốn thực hiện,

– Các yếu tố khác: thói quen giữa hai bên, tập quán, thực tiễn trong ngành và các yếu tố khác của hoàn cảnh.[1]

Thực tiễn án lệ áp dụng điều 38 khoản 1 cũng cho thấy một số thời hạn sau đây đã được ghi nhận là đáp ứng yêu cầu về thời hạn mà quy định này đặt ra như: một tháng sau ngày giao hàng[2]; hai tuần sau ngày giao hàng đầu tiên được thỏa thuận trong hợp đồng[3]; một tuần sau ngày giao hàng[4]; một vài ngày sau khi giao hàng tại cảng đến[5]; ba ngày sau khi hàng được giao cho người mua; hai ngày sau khi giao hàng hay thậm chí là ngay vào ngày giao hàng cho người mua[6]. Hàng hóa dễ hỏng cần phải được kiểm tra ngay sau khi nhận hàng (ngay vào ngày nhận hàng hoặc trong một vài ngày sau đó). Đối với hàng hóa khác, quan điểm chung của nhiều tòa án/trọng tài là việc kiểm tra trong vòng từ 2 tuần kể từ ngày nhận hàng được coi là thời hạn hợp lý, nhưng không quá 1 tháng.

Một số tòa án (như tòa án Đức) có quan điểm khắt khe hơn và trong nhiều tranh chấp đã ấn định thời hạn hợp lý là 1 tuần cho việc kiểm tra hàng hóa. Ví dụ, trong một tranh chấp giữa người mua Đức và người bán Ý, tòa án Landgericht Stuttgart- Đức đã cho rằng khiếu nại của người mua là không hợp lệ do vi phạm thời hạn kiểm tra phẩm chất. Hàng giao ngày 25/5, tuy nhiên phải 16 ngày sau đó (ngày 10/6) người mua mới kiểm tra và tuyên bố hàng giao kém phẩm chất (lót giày có kích cỡ khác nhau và không vừa với đế giày, nhiều mũi khâu bị hở). Đây là các khiếm khuyết rõ ràng và có thể được phát hiện ngay trong lúc nhận hàng nếu người mua có đủ sự cần mẫn cần thiết cho việc kiểm tra hàng hóa. Trong trường hợp này, việc kiểm tra 16 ngày sau khi giao hàng, được coi là không kịp thời và đã quá muộn, đặc biệt là trong hoàn cảnh các khiếm khuyết rất dễ nhận thấy. Thời hạn hợp lý là 1 tuần (5 ngày làm việc).

Ngoài ra, một số vấn đề sau cũng cần được nhà nhập khẩu Việt Nam lưu ý:

– Người tiến hành kiểm tra hàng hóa: vì điều 38 khoản 1 quy định người mua “có nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa” hoặc “đảm bảo đã có sự kiểm tra hàng hóa”, nên việc kiểm tra hàng hóa này có thể được tiến hành bởi chính người mua hoặc người khác. Tòa án quận Ascheffenburg (Đức) trong phán quyết ngày 20/04/2006 đối với tranh chấp giữa nguyên đơn (người mua Đức) và bị đơn (người bán Bỉ) về hợp đồng mua bán bông đã giải thích: “Việc kiểm tra hàng hóa theo quy định của điều 38 CISG có thể được thực hiện bởi chính người mua, nhân viên của người mua hoặc những người khác. Người bán và người mua có thể cùng nhau kiểm tra hàng hóa hoặc thỏa thuận giao việc kiểm tra hàng hóa cho một tổ chức giám định chuyên nghiệp”[7]. Ngoài ra, việc kiểm tra hàng hóa cũng có thể được tiến hành bởi khách hàng của người mua, nhà thầu phụ, một chuyên gia do người mua chỉ định hoặc cơ quan giám định nhà nước. Trong trường hợp này, người mua phải chịu trách nhiệm về việc kiểm tra hàng hóa đó[8].

– Thể thức kiểm tra hàng hóa: vì điều 38 khoản 1 không nói rõ về thể thức kiểm tra hàng hóa, nên, thể thức kiểm tra hàng hóa sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên, thói quen được thiết lập giữa các bên hoặc tập quán thương mại, có thể kiểm tra bằng mắt thường hoặc sử dụng chuyên gia, kiểm tra toàn bộ hoặc ngẫu nhiên. Khi không thể xác định được thể thức kiểm tra hàng hóa trên cơ sở các yếu tố này, án lệ chỉ ra rằng việc kiểm tra phải được tiến hành một cách “hợp lý”[9], “chuyên sâu và chuyên nghiệp”. Việc kiểm tra với chi phí cao, đắt đỏ không được coi là “hợp lý”. Nội dung kiểm tra có thể căn cứ vào loại hàng hóa, việc đóng gói, khả năng của người mua và thường “phải bao trùm tất cả các khía cạnh về tính phù hợp của hàng hóa và phải chỉ ra tất cả khiếm khuyết của hàng hóa mà một người mua được cho là có thể phát hiện ra được”[10].

[1] Xem trong CLOUT Vụ việc số. 423 Tóa Oberster Gerichtshof  ngày 27 tháng 8 năm  1999.

[2]Xem các án lệ sau: Kantonsgericht Schaffhausen 25 February 2002Oberlandesgericht Köln 21 August 1997

[3]Xemcácánlệsau: Appelationshof Bern 11 February 2004 (Wire and cable case)], Bundesgericht 7 July 2004

[4]Xemcácánlệsau: ObersterGerichtshof 14 January 2002] Oberlandesgericht Koblenz 11 September 1998Oberlandesgericht Koblenz 18 November 1999

[5] Xemcácánlệsau: Oberlandesgericht Karlsruhe 25 June 1997U.S. District Court, Northern District of Illinois, 21 May 2004 (Chicago Prime Packers, Inc. v. Northam Food Trading Co.)Handelsgericht St. Gallen 11 February 2003Landgericht Düsseldorf 23 June 1994

[6]UNCITRAL, UNCITRAL Digest of Case Law on the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, 2012 edition, United Nations, New York, 2012, p. 162, para. 13-14.

[7]LandgerichtAscheffenburg, Germany, 20 April 2006, xemtại: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/060420g1.html

[8]UNCITRAL, UNCITRAL Digest of Case Law on the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, 2012 edition, United Nations, New York, 2012, p. 161, para. 9.

[9]CLOUT Case No. 892 (Kantonsgericht Schaffhausen, Switzerland, 27 January 2004), xemtại: http://www.uncitral.org/clout/clout/data/che/clout_case_892_leg-2645.html

[10]CLOUT Case No 828 (Gerechtshof ‘s-Hertogenbosch, the Netherlands, 2 January 2007), xemtại: http://www.uncitral.org/clout/clout/data/nld/clout_case_828_leg-2571.html