Thành lập hợp đồng

THÀNH LẬP HỢP ĐỒNG

Mục 1- Chào hàng

25. Đề nghị giao kết được gửi cho nhiều người không xác định có cấu thành một chào hàng hay không?

Theo quy định tại Điều 14.1 CISG, một đề nghị giao kết hợp đồng để được xem là một chào hàng cần đáp ứng 3 điều kiện, đó là tính rõ ràng của đề nghị, tính xác định của người được đề nghị và ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc bởi chào hàng đó. Theo đó đề nghị phải được gửi đến một hay nhiều người xác định. Tuy nhiên Điều 14.2 CISG có ngoại lệ đối với trường hợp đề nghị giao kết được gửi cho nhiều người không xác định. Khi đó xảy ra 2 trường hợp:

  • Trường hợp đề nghị được gửi cho nhiều người không xác định rõ danh tính mà không khẳng định nó là một chào hàng (ví dụ quảng cáo, phát tờ rơi), thì đó chỉ được coi như một lời giới thiệu về chào hàng, sản phẩm, hay một lời mời chào hàng (invitation to make offers) mà không cấu thành một chào hàng có giá trị pháp lý.
  • Trường hợp đề nghị được gửi đến một hoặc nhiều bên không xác định nhưng đề nghị đó thể hiện ý chí của người chào hàng xem nó là một chào hàng thật sự, thì đề nghị đó đã đáp ứng đủ tính xác định để cấu thành một chào hàng (xem câu hỏi số 26). Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 cũng có cách tiếp cận tương tự và công nhận các đề nghị giao kết hợp đồng gửi đến công chúng.

26. CISG yêu cầu như thế nào về nội dung của chào hàng? Điều 55 CISG có phải là ngoại lệ của Điều 14.1 trong trường hợp chào hàng không quy định giá cả hoặc phương thức xác định giá cả?

Theo quy định tại Điều 14.1 CISG, nội dung của chào hàng phải “đủ rõ ràng”, cụ thể là phải nêu rõ hàng hóa, ấn định giá cả và số lượng một cách trực tiếp hay gián tiếp hoặc quy định thể thức xác định các yếu tố này. Theo đó, điều kiện nêu rõ hàng hóa là việc các bên thể hiện ý chí mua gì, bán gì và điều kiện nêu rõ số lượng mua bao nhiêu. Việc xác định giá cả có thể quy định trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc phải quy định phương thức xác định.

Điều 55 quy định việc xác định giá cả bằng cách xem xét giá trong những điều kiện tương tự của ngành buôn bán hữu quan đối với trường hợp hợp đồng không ấn định một cách rõ ràng hoặc ngụ ý, hoặc không có điều khoản xác định giá cả rõ ràng. Trong khi đó, Điều 14 CISG quy định một chào hàng có hiệu lực phải bao gồm tính xác định của giá cả. Vậy mối quan hệ của hai điều này cần được hiểu như thế nào?

Hiện nay vẫn còn những tranh cãi đối với ý nghĩa của yêu cầu “tính xác định của giá cả” trong Điều 14. Dựa trên cơ sở nguyên tắc diễn giải CISG quy định tại Điều 8, trong trường hợp ý chí của các bên thể hiện rõ ràng mong muốn giao kết hợp đồng bất kể việc chưa quy định giá cả, thì ý chí đó sẽ có giá trị cao hơn yêu cầu về xác định giá của Điều 14 và khi đó giá sẽ được xác định theo Điều 55. Tuy nhiên trong thực tế, pháp luật các quốc gia thuộc hệ thống Dân Luật (Civil Law) thường sẽ yêu cầu tính xác định của giá cả trên chào hàng. Theo đó, một chào hàng phải bao gồm giá cả xác định hoặc có thể xác định được. Điều kiện để Điều 55 được áp dụng là chỉ khi “một hợp đồng đã được xác lập hợp pháp”, vì vậy trường hợp diễn giải Điều 14 theo hướng trên thì Điều 55 sẽ không được áp dụng vì chưa đáp ứng điều kiện tiên quyết.

Ngược lại, hệ thống Thông luật (Common Law) không yêu cầu việc quy định giá cả chính xác trong chào hàng, chỉ cần xác định được việc các bên đã có ý chí thỏa thuận về một cách thức xác định giá cả là đủ (ví dụ dẫn chiếu đến các bảng giá, giá thị trường tại một thời điểm nào đó, hoặc thậm chí xác định giá dựa vào ý kiến chuyên gia). Mặt khác, các bên trong hợp đồng dựa vào Điều 6 CISG có quyền lựa chọn không áp dụng Điều 14, và qua đó có thể thỏa thuận xác lập một hợp đồng mà không cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện của nó. Ý chí thỏa thuận này có thể được xác lập thông qua hành vi, như là việc các bên tiến hành thực hiện hợp đồng bất chấp việc không có giá. Trong trường hợp này một chào hàng nhằm mục đích xác lập một hợp đồng thiếu điều khoản về giá sẽ không bị coi là vô hiệu, và Điều 55 sẽ được áp dụng để xác định giá cả.

Như vậy, các doanh nghiệp cần xem xét đối tác của mình và tòa án/trọng tài sẽ giải quyết tranh chấp áp dụng hệ thống pháp luật nào trên thế giới để có thể lý giải hoặc dự đoán trước được quan điểm giải thích CISG của các thẩm phán hoặc tòa trọng tài khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến tính xác định của giá.

Ngoài ra, tùy vào từng giao dịch, ngoài ba yếu tố kể trên, để được coi là đủ rõ ràng, chào hàng còn có thể phải chứa đựng những nội dung khác như thời gian và địa điểm giao hàng, thậm chí là về bao bì hàng hóa, ví dụ khi đã có thói quen được thiết lập giữa các bên về việc các điều khoản này là “thiết yếu, quan trọng” để cấu thành một hợp đồng. Các bên trong hợp đồng cũng có thể thỏa thuận về những yếu tố nào là những yếu tố quan trọng để hình thành hợp đồng, và nếu một đề nghị không chứa đựng đầy đủ các yếu tố đó thì chưa được coi là một chào hàng có giá trị ràng buộc.

Cũng cần lưu ý đến quy định/yêu cầu của luật quốc gia được áp dụng (nếu có) về những điều khoản chủ yếu cần phải có trong từng loại hợp đồng cụ thể.

27. Làm thế nào để xác định ý chí của người chào hàng để biết tính ràng buộc của chào hàng đó?

Theo Điều 8 CISG, để xác định ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp chào hàng đó được chấp thuận, mọi tình tiết liên quan cần phải được tính đến, bao gồm nhưng không giới hạn các phát biểu, văn bản, lời nói hoặc hành vi của người chào hàng trong suốt các cuộc đàm phán; mọi thói quen mà các bên đã thiết lập với nhau; các tập quán; và mọi hành vi của các bên sau khi một hoặc các bên cho rằng hợp đồng đã được giao kết.

Cũng cần lưu ý là, “ý chí của người chào hàng” không chỉ được xem xét một cách chủ quan, mà theo Điều 8.2, sẽ được xem xét một cách khách quan, dựa trên ý chí của một người bình thường có cùng phẩm chất được đặt trong hoàn cảnh tương tự.

Các quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, tờ rơi, catalogue, bảng giá thường chỉ được coi là lời mời cho chào hàng, ngay cả khi chúng được gửi cho một nhóm khách hàng xác định[1].

Chẳng hạn, một người mua được xem là có ý định giao kết hợp đồng khi người này gửi cho người bán một phiếu đặt hàng, nêu rõ rằng “chúng tôi muốn đặt hàng” và yêu cầu “giao ngay lập tức”. Một lời đề nghị với nội dung chi tiết và có ấn định một thời gian để trả lời thường được coi là chào hàng, vì nó thể hiện ý chí muốn bị ràng buộc của người đưa ra đề nghị đó.

28. Chào hàng gửi đi rồi có thể rút lại được không?

Theo quy định của Điều 15.2, dù là loại chào hàng nào thì vẫn có thể rút lại. Do đó, trên thực tế, cho đến khi chào hàng có hiệu lực, bên chào hàng có quyền đổi ý và quyết định không có ý định giao kết hợp đồng nữa, hoặc thay thế chào hàng ban đầu bằng một đề nghị khác mà không quan tâm xem đề nghị ban đầu có phải là loại chào hàng cố định hay không. Điều kiện duy nhất là bên được chào hàng phải được thông báo về ý định mới của người chào hàng trước hoặc vào thời điểm mà bên được chào hàng nhận được chào hàng ban đầu.

Pháp luật Việt Nam có quy định tương tự về việc thay đổi, rút lại (thu hồi) đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 392 Bộ luật dân sự 2005, Điều 389 Bộ luật dân sự 2015)

29. Hủy bỏ (revoke) chào hàng có gì khác biệt so với rút lại (withdraw) chào hàng? Khi nào một chào hàng có thể bị hủy bỏ?

Hủy bỏ một chào hàng là việc hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực của một chào hàng đã phát sinh hiệu lực. Rút lại một chào hàng là việc thu hồi một chào hàng trước khi nó có giá trị hiệu lực. Như vậy, cả hai thuật ngữ đều được sử dụng trong trường hợp làm chấm dứt hiệu lực của một chào hàng. Tuy nhiên, xét theo tiêu chí về thời điểm khác nhau mà mỗi thuật ngữ được sử dụng và hiểu khác nhau. Trong đó:

–              Thuật ngữ “Rút lại chào hàng”  (quy định tại Điều 15.2 CISG): thời điểm rút lại chào hàng là lúc thông báo rút lại chào hàng tới nơi người được chào hàng trước hoặc cùng lúc với chào hàng.

–              Thuật ngữ “Hủy bỏ chào hàng” (quy định tại Điều 16 CISG): thời điểm hủy bỏ chào hàng là lúc thông báo hủy chào hàng tới nơi người được chào hàng trước khi người này gửi chấp nhận chào hàng.

Điều kiện áp dụng thu hồi và hủy bỏ chào hàng cũng khác nhau:

– Người chào hàng có thể thu hồi chào hàng ngay cả đối với loại chào hàng không thể hủy ngang (irrevocable offer, hay trong thực tiễn kinh doanh thường được gọi là chào hàng cố định).

– Chào hàng sẽ không thể bị hủy bỏ nếu như nó có ấn định thời hạn xác định cho việc chấp nhận chào hàng hay ấn định rằng nó không thể bị hủy bỏ, hoặc người được chào hàng coi là không thể hủy bỏ và đã hành động hợp lý theo chiều hướng đó. Lưu ý, thông báo hủy chào hàng chỉ có hiệu lực đối với loại chào hàng có thể hủy ngang bởi vì đối với loại chào hàng này, nếu bên nhận chào hàng đã có hành vi và chứng minh được hành vi đó là chấp thuận chào hàng, thì bên chào hàng phải chịu sự ràng buộc đối với chào hàng của mình và không thể thông báo hủy bỏ. Việc thông báo hủy bỏ chỉ có hiệu lực khi chào hàng tới tay người được chào hàng, mà người chào hàng không/chưa có hành vi nào để đáp trả chào hàng đó.

Liên quan đến quyền hủy bỏ chào hàng, pháp luật Việt Nam quy định khác với CISG. Điều 393 Bộ luật Dân sự 2005 (Điều 390 Bộ luật Dân sự 2015) quy định đề nghị giao kết chỉ có thể được hủy bỏ nếu trong đề nghị có quy định quyền của bên đề nghị có thể hủy bỏ.

Mục 2- Chấp nhận chào hàng

30. Thế nào là chấp nhận chào hàng bằng hành vi?

Chấp nhận chào hàng bằng hành vi được quy định tại Điều 18.1 CISG, theo đó một chấp nhận chào hàng không nhất thiết phải được biểu hiện thông qua văn bản, lời nói mà còn có thể được ghi nhận bằng hành vi. Bên cạnh việc các bên cùng nhau ký kết văn bản thỏa thuận, chấp nhận chào hàng có thể được thể hiện thông qua các hành vi liên quan đến nghĩa vụ chủ yếu của các bên khi hợp đồng được hình thành như gửi hàng hay trả tiền, tạm ứng tiền.

Chấp nhận chào hàng bằng hành vi có thể được thể hiện ở 3 hình thái chính: (i) chào hàng thể hiện hoặc cho phép rõ ràng việc chấp thuận bằng một hành vi; (ii) các bên thông qua các giao dịch tương tự trong quá khứ đã hình thành một thói quen chấp thuận bằng hành vi; và (iii) thói quen thương mại được thừa nhận rộng rãi như là một hình thức chấp thuận chào hàng. Trong một số trường hợp đặc biệt, việc bên mua đưa chào giá của bên bán vào trong một chào giá của mình cho một bên thứ ba và giao kết hợp đồng với bên thứ ba đó, cũng có thể coi là một hành vi chấp nhận chào hàng ràng buộc bên bán phải cung cấp hàng hóa đó cho bên mua. 

Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, trong các trường hợp (i) chào hàng cho phép chấp thuận bằng hành vi; hoặc (ii) khi có tập quán thương mại hoặc giữa các bên đã thiết lập thói quen như vậy, Điều 18.3 CISG  cho phép chấp thuận chào hàng bằng hành vi có hiệu lực vào thời điểm hành vi đó được thực hiện mà không cần thông báo cho bên chào hàng, và chỉ có hiệu lực nếu nó thỏa mãn điều kiện hành vi đó đã được thực hiện xong trong thời hạn mà bên chào hàng đã ấn định, hoặc là trong một thời hạn hợp lý như quy định tại Điều 18.2 CISG. Trong các trường hợp chấp thuận chào hàng bằng hành vi khác, thông thường bên chấp nhận chào hàng phải thông báo cho bên chào hàng, hoặc bên chào hàng phải có xác nhận về việc chấp nhận chào hàng bằng hành vi. Trong trường hợp đó chỉ cần thông báo/xác nhận về một hành vi chấp thuận chào hàng bắt đầu được thực hiện là đủ cấu thành chấp thuận chào hàng bằng hành vi.

Một lưu ý khác là trong trường hợp bên nhận chào hàng thể hiện ý chí chấp nhận chào hàng thông qua hành vi giao hàng một phần, thì hành vi đó chưa cấu thành chấp nhận chào hàng bằng hành vi mà sẽ được coi là một chào hàng đối ứng mà bên chào hàng có quyền tự do chấp thuận hoặc từ chối.

31. Khi nào sự im lặng được coi là chấp nhận chào hàng?

Trên thực tế, chấp nhận chào hàng bằng hành vi xảy ra tương đối phổ biến, nhất là giữa các bên đã có quan hệ làm ăn lâu năm. Ví dụ, theo thói quen đã hình thành từ nhiều giao dịch với nhau trong quá khứ, khi nhận được chào hàng một bên mua có thể thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền của họ mà không cần phải thông báo cho bên còn lại. Thực tiễn này dẫn tới một khoảng thời gian im lặng, hay không hành động của bên nhận chào hàng từ thời điểm nhận được chào hàng tới khi họ thực hiện hành vi biểu thị sự chấp nhận chào hàng. Điều 18.1 CISG quy định: Sự im lặng hoặc không hành động (inaction/inactivity) không mặc nhiên có giá trị là một chấp nhận. Hay nói cách khác, bản thân sự im lặng không thể đảm bảo chắc chắn cho người chào hàng rằng chào hàng của họ đã được chấp nhận. Trong mọi trường hợp, sau khoảng thời gian im lặng, bên nhận chào hàng chắc chắn phải thực hiện một hành vi thể hiện rõ ràng khuynh hướng chấp nhận chào hàng của họ (như gửi hàng hoặc trả tiền).

Cũng bởi tính không rõ ràng của sự im lặng và sự không đảm bảo về việc một hành vi chấp nhận chào hàng sẽ xảy ra, thông thường chấp nhận chào hàng bằng hành vi chỉ tồn tại giữa các bên đã có mối quan hệ đối tác lâu dài – giữa các bên đã xây dựng được sự tin tưởng nhất định. Tuy vậy, ngay cả khi là đối tác lâu năm, bên chào hàng cũng nên có sự trù bị sẵn phương án dự phòng khi chào hàng không được chấp nhận, không nên quá tin tưởng rằng bên còn lại sẽ theo thói quen chấp nhận chào hàng mà không thông báo. Trong đa số trường hợp, sự im lặng tự nó không thể cấu thành chấp nhận chào hàng.

Một ngoại lệ cho nguyên tắc này, đó là khi giữa các bên giao kết hợp đồng đã hình hành thói quen về việc một bên im lặng thì được coi là sự chấp nhận của bên đó đối với chào hàng. Trong một quyết định của Tòa Phúc thẩm Grenoble (Cộng hòa Pháp), im lặng vẫn được coi là đồng ý do bên bán thường xuyên thực hiện đặt hàng của bên mua mà không cần tuyên bố chấp thuận rõ ràng[2]. Ngoại lệ này là hệ quả của việc áp dụng nguyên tắc các bên bị ràng buộc bởi các thói quen đã được xác lập giữa các bên (Điều 9 CISG)[3] và nghĩa vụ hành động trên nguyên tắc thiện chí trung thực (Điều 7 CISG)

32. Thời hạn chấp nhận chào hàng được tính như thế nào?

CISG có quy định về mốc tính thời hạn chấp nhận chào hàng khác nhau đối với các hình thức chào hàng được gửi đi. Theo đó, Điều 20 quy định:

– Đối với chào hàng bằng điện tín hay thư: thời hạn chấp nhận chào hàng bắt đầu được tính từ ngày ghi trên thư hoặc ngày bưu điện đóng dấu trên phong thư hoặc kể từ ngày bức điện được giao để gửi đi.

– Đối với chào hàng bằng điện thoại, telex hoặc phương tiện thông tin liên lạc khác: thời hạn chấp nhận chào hàng bắt đầu được tính từ lúc người được chào hàng nhận được chào hàng.

Liên quan đến khái niệm “nhận được” trong trường hợp sau, Điều 24 CISG cũng có quy định việc chào hàng được coi là tới nơi khi:

  • Chào hàng được thông tin bằng lời nói với người được chào hàng; hoặc
  • Chào hàng được giao bằng bất cứ phương tiện nào cho chính người được chào hàng

o             Tại địa điểm kinh doanh của họ

o             Tại địa chỉ bưu chính

o             Tới nơi thường trú của họ (nếu họ không có địa điểm kinh doanh hay địa chỉ bưu chính)

Đối với trường hợp ngày lễ ngày nghỉ, nếu ngày lễ ngày nghỉ rơi vào khoảng thời gian được quy định chấp nhận chào hàng sẽ không được trừ khi tính thời hạn đó. Trừ trường hợp thông báo chấp nhận được gửi đi nhưng không thể đến địa chỉ người chào hàng vì ngày cuối cùng trong thời hạn là ngày nghỉ, thì thời hạn chấp nhận chào hàng được kéo dài đến ngày làm việc kế tiếp đầu tiên (Điều 20.2 CISG)

33. Trường hợp đề nghị chào hàng không quy định thời hạn trả lời, thì người được đề nghị phải trả lời trong thời hạn như thế nào?

Điều 18.2 CISG quy định trường hợp người đề nghị không ghi rõ một thời hạn trả lời nhất định, thì chấp thuận phải được thực hiện trong một thời hạn hợp lý, cũng có nghĩa là người được đề nghị phải hành xử một cách hợp lý. Điều 8 CISG có quy định một số nguyên tắc cơ bản để xác định hành xử hợp lý, theo đó một hành xử hợp lý sẽ được đánh giá là một người bình thường hành xử một cách thiện chí trung thực trong hoàn cảnh tương tự như vậy sẽ xem đó là hợp lý. Mọi yếu tố liên quan đều nên được đưa vào xem xét như phương tiện liên lạc được sử dụng để gửi chào hàng và chấp nhận chào hàng, khoảng cách địa lý giữa các bên, thời gian suy nghĩ để trả lời chào hàng trên cơ sở xem xét các đặc thù của giao dịch (đối tượng hàng hóa, trị giá và tính phức tạp của giao dịch, sự thay đổi của giá hàng hóa trên thị trường, tính dễ hỏng hay không của hàng hóa, nhu cầu của bên được chào hàng cần phải đàm phán với nhà cung ứng hay ngân hàng trước khi đưa ra chấp nhận chào hàng). Ví dụ, nếu đề nghị được thực hiện bằng điện thoại hoặc các phương tiện truyền tin khác cho phép lời nói truyền dẫn sẽ phải được trả lời ngay bằng hình thức tương tự. Mặt khác, các hình thức thông điệp như telex, gửi thư v.v. có thể được trả lời trong một thời gian dài hơn. Ngoài ra, các thói quen hình thành giữa các bên và tập quán thương mại ngành cũng cần được xem xét như là cách hành xử hợp lý của các bên. Ví dụ trong ngành mua bán sản phẩm nông sản, giá hàng hóa thường xuyên thay đổi nhanh chóng với biên độ lớn, đòi hỏi việc trả lời đề nghị trong thời gian vài ngày, để tránh việc bên được đề nghị hưởng lợi từ việc đầu cơ giá. Trong một án lệ tại Thụy Sỹ, tòa án đã cho rằng, dựa trên thực tiễn kinh doanh trứng trên phạm vi quốc tế của các nhà kinh doanh lớn trong lĩnh vực này, người chào hàng bị ràng buộc bởi chào hàng của mình trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm đưa ra chào hàng[4].

Bộ luật Dân sự năm 2005 không quy định về vấn đề này. Khoản 1 Điều 394 Bộ luật Dân sự 2015 bổ sung quy định: “Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý” nhưng chưa quy định cụ thể về các yếu tố dựa trên đó để xác định “tính hợp lý” của thời hạn hiệu lực của chào hàng.

34. Chấp nhận chào hàng muộn là gì? CISG quy định như thế nào về chấp nhận chào hàng muộn?

Chấp nhận chào hàng muộn xảy ra khi người được đề nghị giao kết hợp đồng trả lời chấp nhận đề nghị sau thời điểm mà người đề nghị đặt ra để giới hạn thời gian trả lời (Điều 20). Về cơ bản, sự chấp nhận của người được đề nghị vào thời điểm này là vô hiệu. Tuy nhiên, nếu sau khi nhận được lời chấp nhận trong trường hợp trên, người đề nghị vẫn có ý định giao kết hợp đồng, họ phải thông báo lại bằng miệng cho người được đề nghị mà không trì hoãn (khoản 1 Điều 21). Trong trường hợp này, hợp đồng được coi là đã giao kết kể từ thời điểm người đề nghị nhận được chấp nhận chào hàng muộn.

Ngay cả trong trường hợp người được đề nghị trả lời (ngày gửi được thể hiện trên bao bì, giấy tờ) mà lẽ ra với cách thức truyền tin thông thường như vậy thì chấp thuận chào hàng đó đã đến tay người đề nghị đúng hạn, nhưng do trong quá trình vận chuyển thư từ/email/điện tín chấp nhận đề nghị gặp rủi ro không lường trước được (thảm họa thiên nhiên, mất đường truyền) khiến chào hàng đến trễ thì chấp nhận chào hàng vẫn được coi là đến muộn và về nguyên tắc bên đề nghị không phải chịu ràng buộc bởi chấp thuận đó (trên thực tế khi đề nghị chào hàng đã hết hạn có thể đề nghị cũng đã được chấp nhận bởi một người được đề nghị khác). Tuy nhiên nếu người được đề nghị im lặng sau khi nhận được chấp thuận trễ hạn, rất có thể người được đề nghị sẽ tưởng rằng chấp thuận của mình đã đến với người nhận và hợp đồng đã được giao kết, và sẽ tiến hành thực hiện hợp đồng đó. Vì vậy, trong trường hợp này CISG yêu cầu người nhận chấp thuận bị trễ thông báo ngay lập tức bằng miệng (hoặc đã gửi đi một thông báo có giá trị tương tự) cho người được đề nghị rằng họ xem đề nghị đó là vô hiệu, nếu không chấp thuận chào hàng đến muộn sẽ có hiệu lực như là nó không bị trễ (khoản 2 Điều 21 CISG).

Như vậy, trong mọi trường hợp nhận được chấp thuận chào hàng muộn, người đề nghị luôn được khuyến nghị phải thông báo với bên được đề nghị một cách không chậm trễ về ý định của mình đối với chấp thuận chào hàng muộn đó. Điều này rất quan trọng vì không phải lúc nào việc xác định tình huống trễ hạn mà theo cách thức truyền tin thông thường thì chấp thuận chào hàng đó đã đến tay người đề nghị đúng hạn cũng dễ dàng.

35. Chấp nhận chào hàng có thể bị thu hồi không?

Mặc dù chấp nhận chào hàng đã được gửi đi đúng theo quy định của pháp luật, nhưng nó vẫn có thể bị thu hồi với điều kiện việc thông báo thu hồi đó phải tới trước hoặc cùng lúc với thông báo chấp nhận chào hàng (Điều 22 CISG). Như vậy, nguyên tắc để thu hồi chấp nhận chào hàng được áp dụng giống như việc thu hồi chào hàng.

Pháp luật Việt Nam có quy định tương tự về quyền được thu hồi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 400 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 397 Bộ luật Dân sự 2015). 

36. Quyền thay đổi nội dung chào hàng khi đưa ra chấp nhận chào hàng?

Điều 19.2 CISG ghi nhận một chấp nhận chào hàng, bên cạnh việc thể hiện sự chấp thuận còn có thể chứa các điều khoản bổ sung, thay đổi so với nội dung chào hàng ban đầu. Tuy nhiên, những nội dung mà sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàng bổ sung không được làm thay đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng. Những điều kiện làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng được liệt kê tại Điều 19.3: giá cả, thanh toán; phẩm chất và số lượng hàng hóa; địa điểm và thời hạn giao hàng; phạm vi trách nhiệm của các bên; việc giải quyết tranh chấp. Theo đó, sự hồi đáp biểu lộ sự chấp thuận kèm theo yêu cầu thay đổi các điều kiện kể trên sẽ được coi là từ chối chào hàng và cấu thành một chào hàng mới. Hiện nay còn nhiều cách hiểu chưa thống nhất về khái niệm “biến đổi một cách cơ bản nội dung chào hàng”, tuy nhiên danh sách liệt kê tại Điều 19.3 là một danh sách mở, nghĩa là bất cứ bổ sung nào khác làm thay đổi cơ bản nội dung chào hàng cũng sẽ không được coi là chấp thuận chào hàng.

Ngoài ra, sự phúc đáp biểu hiện sự chấp nhận chào hàng kèm theo các yếu tố bổ sung không làm thay đổi cơ bản nội dung chào hàng sẽ không được coi là chấp nhận chào hàng nếu nó bị phản đối bởi bên chào hàng ngay lập tức bằng lời nói hoặc bằng văn bản.

37. Một trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng chứa các điều khoản sửa đổi, bổ sung thì được xem là chấp nhận chào hàng hay một chào hàng mới?

Về nguyên tắc, trả lời của Bên được chào hàng chỉ được xem là chấp nhận chào hàng nếu Bên được chào hàng chấp nhận toàn bộ nội dung của chào hàng (quy tắc tấm gương phản chiếu- mirror image rule).

Tuy nhiên, Điều 19.2 CISG cho phép trường hợp ngoại lệ. Theo đó, trừ trường hợp bên chào hàng không chậm trễ phản đối bằng miệng hoặc bằng cách gửi thông báo phản đối, một trả lời có chứa các điều khoản bổ sung, sửa đổi vẫn có thể cấu thành một chấp nhận chào hàng nếu các điều khoản được điều chỉnh là các điều khoản không cơ bản hay không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng (Điều Khoản Không Cơ Bản).

Một số sửa đổi được coi là Điều Khoản Không Cơ Bản bao gồm các điều chỉnh về số lượng hàng hóa trong mỗi lô hàng mà không làm thay đổi tổng số lượng hàng; bảo lãnh ngân hàng; chi phí vận tải; điều khoản bảo lưu quyền thay đổi ngày giao hàng trong điều khoản mẫu của bên bán; bổ sung yêu cầu bên bán phải soạn một hợp đồng chấm dứt chính thức; yêu cầu bảo mật cho đến khi các bên công bố nội dung của hợp đồng; điều khoản quy định người mua từ chối hàng được giao trong thời gian được quy định; điều khoản điều chỉnh giá của chào hàng phù hợp với giá thị trường;…

Ngoài ra, trong một số trường hợp, các điều khoản cơ bản của chào hàng được liệt kê ở Điều 19.3 CISG như giá cả, thanh toán, chất lượng và số lượng hàng hóa, địa điểm và thời hạn giao hàng, phạm vi trách nhiệm của các bên; giải quyết tranh chấp hay các điều khoản cơ bản khác (Điều Khoản Cơ Bản) cũng có thể được coi là Điều Khoản Không Cơ Bản tùy theo phương thức sử dụng, công dụng đặc thù của hàng hóa hoặc theo thỏa thuận của các bên.

Cần lưu ý là việc xác định một sửa đổi, bổ sung chào hàng có thay đổi cơ bản nội dung chào hàng hay không cần được thực hiện theo từng trường hợp, tùy thuộc vào các yếu tố của giao dịch và sự ảnh hưởng của sửa đổi/bổ sung chào hàng đối với toàn bộ nội dung hợp đồng và đối với từng bên của hợp đồng. Ví dụ, thông thường một sửa đổi bổ sung liên quan đến vấn đề bao bì hàng hóa thường được coi là “không cơ bản”, nhưng trong một số trường hợp, bao bì lại được coi là yếu tố cơ bản của hợp đồng[5].

38. Điều khoản nào sẽ trở thành nội dung của hợp đồng trong trường hợp bên chào hàng và bên được chào hàng trao đổi với nhau về nội dung chào hàng và chấp nhận chào hàng căn cứ theo điều kiện giao dịch chung (general/standard business terms) của mỗi bên và các điều khoản này mâu thuẫn với nhau?

Nếu một chấp thuận chào giá chứa đựng các sửa đổi, bổ sung không cơ bản đối với chào hàng và theo đó hợp đồng đã được xác lập, điều khoản của hợp đồng sẽ là các điều khoản của chào hàng đã được sửa đổi, bổ sung bởi văn bản chấp thuận, trừ khi bên đề nghị phản đối (Điều 19.2 CISG). Tuy nhiên, khi trao đổi qua lại giữa các bên chứa điều kiện giao dịch chung của mỗi bên, CISG không hướng dẫn cụ thể việc xác định điều khoản của bên nào sẽ là nội dung của hợp đồng, đặc biệt khi các điều khoản đó mâu thuẫn với nhau và hợp đồng được xác lập thông qua hành vi. Do đó, việc xác định điều khoản của hợp đồng sẽ phụ thuộc vào hướng giải quyết của tòa án đối với từng vụ việc cụ thể.

Nhìn chung, các tòa án thường áp dụng một trong hai nguyên tắc sau để giải quyết vấn đề:

  • Quy tắc “Last-shot”

Khi các bên trao đổi với nhau về nội dung chào hàng có liên quan đến việc áp dụng điều khoản mẫu của mỗi bên thì hợp đồng chỉ được hình thành và có giá trị pháp lý ràng buộc các bên nếu một bên chấp nhận và bằng văn bản, lời nói hoặc hành động bất kỳ cho thấy rằng bên đó không còn phản đối, đề cập, trao đổi hoặc dựa trên các điều khoản mẫu của bên đó. Theo quy tắc này, điều khoản của hợp đồng được hình thành là điều khoản mẫu mà bên cuối cùng nhận được mà không phản đối.

  • Quy tắc “Knock-out”

Theo quy tắc “Knock-out”, mặc dù các điều khoản mẫu trong chào hàng hoặc chấp nhận chào hàng của các bên xung đột với nhau, dẫn đến làm biến đổi cơ bản hoặc không cơ bản nội dung của chào hàng theo Điều 19 CISG, hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý ràng buộc các bên, nếu mỗi bên đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ nội dung được thỏa thuận.

Các điều khoản mẫu xung đột với nhau sẽ không có hiệu lực và được thay thế bằng các quy định của CISG có liên quan. Nói cách khác, điều khoản của hợp đồng chỉ bao gồm các điều khoản mẫu không mâu thuẫn.

Chú thích: 

[1] Peter Schlechtriem, Commentary on the UN Convention on the International Sale of Good, third edition, tr.111

[2] Calzados Magnanni v. Shoes General International, Tòa Phúc thẩm Grenoble, Pháp, ngày 21/10/1999

Xem bản dịch tiếng Anh tại: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/991021f1.html

hoặc: http://www.uncitral.org/clout/clout/data/fra/clout_case_313_leg-1536.html truy cập ngày 5/5/2016

[3] Về Điều này, xem thêm câu hỏi số 23

[4] Peter Schlechtriem, Commentary on the UN Convention on the International Sale of Good, third edition, tr.133

[5][5] Án lệ về giao dịch mua bán đường được đóng trong bao bì có chất lượng (có thể là bao mới hay đã qua sử dụng), trích dẫn bởi: Karl H. Neumayer, Catherine Ming, Convention de Vienne sur les contrats de vente internationale de marchandise, Cedidac, 1993, tr.182. Hoặc án lệ về thịt hun khói, theo đó việc người được chào hàng đề xuất giao hàng không có bao bì được coi là thay đổi cơ bản nội dung chào hàng (trong chào hàng có nêu thịt hun khói được đóng gói), xem án lệ của Đức: OIG Hamm, 22/09/1992- 19 U 97/91.